Nội dung bài viết (7 mục)
Cừ Larsen là cừ ván thép có khóa nối ở hai mép, các thanh móc vào nhau thành một bức tường liên tục; cừ C là thép hình hoặc thép chấn hình chữ C, không có khóa nối. Vì vậy hai loại khác nhau về khả năng hạn chế nước, thiết bị hạ cừ và chi phí. Nhiều hố móng nhà phố, nhà xưởng được thiết kế bằng cừ C kết hợp hệ chống. Nếu thiết kế yêu cầu tường cừ có khóa nối thì cần dùng đúng loại đó.
Phạm Tường 5 thi công cừ thép hình C và U, không cung cấp cừ Larsen. Bài viết giúp bạn hiểu điểm khác nhau để trao đổi với đơn vị thiết kế và chọn đúng nhà thầu. Bài không thay thế việc tính toán của đơn vị thiết kế.
1. Cừ Larsen là gì?
Cừ Larsen (còn viết là Larssen, thường gọi là cừ ván thép) là các thanh thép cán nóng, tiết diện dạng chữ U, hai mép có khóa nối (khóa Larssen). Khi hạ, mép của thanh sau được lồng vào khóa của thanh trước, tạo thành một tường liên tục. Ví dụ, nhà sản xuất ArcelorMittal ghi rõ các dòng cừ chữ U của họ đều dùng khóa Larssen.
Theo catalog cừ ván thép của Nippon Steel, bản thân tấm thép không thấm nước. Tuy vậy, khóa nối có khe hở nhỏ để thanh cừ dễ hạ. Lượng nước rò qua khóa thường giảm dần khi cát lấp vào khe. Muốn chặn nước sớm thì phải xử lý khóa, phổ biến là bôi vật liệu trương nở vào khóa trước khi hạ cừ. Nói cách khác, ngay cả cừ có khóa cũng không mặc nhiên kín nước tuyệt đối.
Để hình dung kích thước, catalog nói trên ghi loại NS-SP-III có bề rộng hiệu dụng 400 mm, cao 125 mm, dày 13 mm, nặng 60 kg/m mỗi thanh. Đây là số liệu của một nhà sản xuất cụ thể, chỉ để tham khảo; loại cừ dùng cho công trình phải theo thiết kế.
2. Cừ C (C200, C250, C300) khác ở điểm nào?
Cừ C dùng trên công trường nhà phố thường là thép hình hoặc thép tấm chấn thành chữ C, với tên gọi theo bề rộng lưng danh nghĩa 200, 250 hoặc 300 mm. Các thanh được hạ sát hoặc chờm cánh lên nhau, không có khóa nối kín giữa các thanh. Theo bảng quy cách công bố của một nhà cung cấp thép chấn trong nước, cừ C250 cánh 50 mm dày 3 – 6 mm nặng khoảng 8,24 – 16,49 kg/m. Thanh cừ C vì vậy nhẹ hơn nhiều so với một thanh cừ ván thép cán nóng như ví dụ ở trên.
Thanh nhẹ giúp vận chuyển, trung chuyển trong hẻm và hạ cừ bằng thiết bị nhỏ dễ hơn. Đổi lại, tường cừ C có khe giữa các thanh, nước và hạt đất mịn có thể đi qua. Xem chi tiết quy cách, trọng lượng từng loại trong bài quy cách cừ C200, C250, C300.

Đỉnh tuyến cừ thép hình và hệ chống thép quanh hố đào; ảnh minh họa.
3. Bảng so sánh cừ Larsen và cừ C
Vuốt ngang để xem đủ các cột →
| Tiêu chí | Cừ Larsen (cừ ván thép có khóa) | Cừ C (thép hình/thép chấn C) |
|---|---|---|
| Tiết diện | Chữ U cán nóng, hai mép có khóa nối | Chữ C, không có khóa nối |
| Liên kết giữa các thanh | Khóa móc vào nhau thành tường liên tục | Hạ sát hoặc chờm cánh; còn khe giữa các thanh |
| Hạn chế nước qua tường | Tốt hơn; muốn chặn nước sớm cần xử lý khóa | Hạn chế; cần phương án kiểm soát nước riêng |
| Trọng lượng một thanh | Lớn (ví dụ loại 400 mm nặng khoảng 60 kg/m) | Nhỏ hơn nhiều (C250 dày 3 – 6 mm khoảng 8 – 16 kg/m) |
| Thiết bị hạ cừ | Thường dùng búa rung hoặc máy ép thủy lực chuyên dụng, cần cẩu hoặc máy cơ sở phù hợp | Có thể dùng thiết bị nhỏ hơn, phù hợp mặt bằng chật nếu phương án cho phép |
| Vận chuyển, trung chuyển | Thanh nặng, dài; cần khảo sát kỹ đường vào | Nhẹ hơn, dễ trung chuyển hơn |
| Chi phí tương đối | Thường cao hơn do vật tư, thiết bị và huy động | Thường thấp hơn; vẫn phụ thuộc khối lượng, thời gian thuê |
| Thuê và thu hồi | Thường cho thuê và rút lại để dùng nhiều lần | Cũng thường thuê và rút thu hồi theo thiết kế |
Bảng chỉ so sánh định tính. Số liệu trọng lượng lấy từ catalog nhà sản xuất và bảng quy cách nhà cung cấp đã nêu ở trên. Chúng tôi không đưa giá cừ Larsen vì không phải dịch vụ của Phạm Tường 5.
4. Khi nào cừ C thường đáp ứng được?
Cừ C thường được thiết kế cho hố móng nhà phố, nhà xưởng, hố ga, bể ngầm có chiều sâu đào không lớn, khi nền đất và nước ngầm cho phép kiểm soát bằng biện pháp đi kèm. Tường cừ C hầu như luôn làm việc cùng hệ văng chống hố móng và trình tự đào được duyệt.
Một số trang trên mạng đưa ra ngưỡng kiểu “hố sâu hơn X mét thì phải dùng cừ Larsen”. Không nên áp dụng ngưỡng cố định đó. Cùng một chiều sâu đào, nền cát bão hòa nước sát nhà cũ có điều kiện khác hẳn nền sét cứng trên mặt bằng trống. Loại cừ, chiều dài thanh và số tầng chống phải do đơn vị thiết kế xác định từ hồ sơ địa chất và hiện trạng. Xem thêm những điều kiện cần đánh giá trước khi ép cừ.
5. Khi nào nên cân nhắc cừ có khóa nối?
Các tình huống dưới đây thường được đơn vị thiết kế xem xét kỹ hơn về loại tường chắn, trong đó có cừ ván thép có khóa:
- Hố đào trong nền cát, bùn bão hòa nước, mực nước ngầm cao, nguy cơ đất mịn bị cuốn qua khe.
- Công trình sát sông, kênh rạch, ao hồ, nơi nước có thể thấm liên tục vào hố.
- Hố đào sâu hoặc tải trọng quanh hố lớn, yêu cầu kiểm soát chuyển vị nhà liền kề chặt chẽ.
- Hố cần giữ khô trong thời gian dài, nơi việc bơm nước có thể ảnh hưởng nền xung quanh.

Hố đào dài với hai tuyến cừ thép hình, hệ chống thép và nước đọng dưới đáy; ảnh minh họa.
Nếu kết luận là cần cừ có khóa nối, hãy làm việc với đơn vị chuyên thi công cừ Larsen và yêu cầu họ trình biện pháp hạ cừ, xử lý khóa, kiểm soát nước, cùng phương án bảo vệ nhà liền kề. Ngược lại, nếu hồ sơ đã chọn cừ C hoặc U, việc tự đổi sang cừ Larsen “cho chắc” cũng cần thiết kế kiểm tra lại, vì thiết bị nặng hơn và cách hạ cừ khác có thể tạo ảnh hưởng khác tới công trình bên cạnh.
6. Cách hỏi nhà thầu để không nhầm loại cừ
Trên thị trường, “cừ U” có lúc chỉ cừ thép hình U, có lúc lại được dùng để gọi cừ Larsen. Khi nhận báo giá, hãy yêu cầu ghi rõ:
Vuốt ngang để xem đủ các cột →
| Câu hỏi | Vì sao cần hỏi |
|---|---|
| Tiết diện cụ thể (cao, rộng, dày) là gì? | Tên gọi C250, U250 hay “cừ U” chưa đủ để biết loại vật tư |
| Thanh cừ có khóa nối không? | Phân biệt cừ ván thép có khóa với cừ thép hình C/U |
| Hạ cừ bằng thiết bị gì? | Liên quan rung, tiếng ồn, mặt bằng và đường vào |
| Phương án kiểm soát nước là gì? | Tường cừ không tự giải quyết mọi vấn đề về nước |
| Thuê bao lâu, ai rút, xử lý khe rút thế nào? | Ảnh hưởng tổng chi phí và an toàn sau khi rút |
Với hố móng được thiết kế bằng cừ C200, C250, C300 hoặc cừ U, bạn có thể xem phạm vi thi công ép cừ C tại TP.HCM, gồm cả các nội dung cần có trong báo giá.
7. Tóm lại
Cừ Larsen và cừ C khác nhau chủ yếu ở khóa nối. Cừ Larsen tạo tường liên tục, hạn chế nước tốt hơn nhưng nặng và tốn kém hơn. Cừ C nhẹ, dễ thi công trong mặt bằng chật nhưng cần phương án kiểm soát nước đi kèm. Loại nào phù hợp phải do thiết kế quyết định theo địa chất, nước ngầm, chiều sâu đào và hiện trạng lân cận.
Nếu công trình của bạn dùng cừ thép hình C hoặc U, hãy gửi mặt bằng, chiều sâu đào và hồ sơ hiện có để Phạm Tường 5 khảo sát và báo giá theo điều kiện thực tế.
Tham khảo kỹ thuật về cừ ván thép có khóa: Nippon Steel — Steel Sheet Piles (catalog), ArcelorMittal Sheet Piling — Watertightness.
Dịch vụ liên quan đến bài viết
- Thi công ép cừ C tại TP.HCM
Nhận ép cừ C200, C250, C300 và cừ U200, U250, U300 chắn giữ hố móng nhà phố, nhà xưởng tại TP.HCM. Khảo sát mặt bằng, xác định phạm vi thi công và báo giá tách hạng mục trước khi triển khai.
- Ép cừ chống sạt lở
Thi công ép cừ thép hình C và U chắn giữ thành hố đào cho tầng hầm, móng nhà phố, kè bờ tại TP.HCM và các tỉnh lân cận; phối hợp biện pháp kiểm soát nước theo điều kiện thực tế.