Nội dung bài viết (7 mục)
Giá san lấp mặt bằng tại TP.HCM thường được tính theo m³, gồm tiền vật liệu (cát, đất hoặc xà bần), vận chuyển và có thể thêm công san gạt, lu lèn. Theo các bảng giá công khai tra cứu tháng 10/2026, cát san lấp phổ biến khoảng 200.000 – 260.000 đ/m³, đất san lấp khoảng 70.000 – 150.000 đ/m³. Tổng chi phí phụ thuộc chủ yếu vào khối lượng, mà khối lượng lại phụ thuộc cách tính thể tích và hệ số lèn chặt.
Bài viết này tập trung vào phần tiền và khối lượng: mặt bằng giá thị trường, công thức tính, ví dụ minh họa và cách đo để nghiệm thu. Phần kỹ thuật thi công (bóc hữu cơ, xử lý nền yếu, đắp lớp, đầm nén) đã có trong bài quy trình san lấp mặt bằng đúng kỹ thuật.
1. Giá cát, đất san lấp 1m³ trên thị trường (tham khảo 10/2026)
Bảng dưới tổng hợp mức giá mà một số đơn vị cung cấp vật liệu và thi công tại TP.HCM đang công bố trên website, tra cứu tháng 10/2026. Đây là giá tham khảo thị trường, không phải báo giá của Phạm Tường 5. Các nguồn ghi phạm vi rất khác nhau và phần lớn không nêu rõ đã gồm vận chuyển hay thuế.
Vuốt ngang để xem đủ các cột →
| Hạng mục | Mức đang được công bố | Đơn vị | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Cát san lấp thông thường | 200.000 – 260.000 đ | m³ | Mức gặp nhiều nhất giữa các nguồn |
| Cát san lấp sạch, ít tạp chất | 300.000 – 350.000 đ | m³ | Một nguồn phân loại theo mức tạp chất; loại nhiều tạp chất từ 190.000 đ |
| Cát giao bằng xe ben 10 m³ | 2.000.000 – 2.300.000 đ | Chuyến | Tương đương 200.000 – 230.000 đ/m³ nếu xe đủ khối |
| Đất san lấp, đất đắp nền | 70.000 – 150.000 đ | m³ | Hai nguồn, cập nhật đầu năm 2026 |
| Xà bần san lấp | 110.000 – 160.000 đ | m³ | Một nguồn, bảng giá ghi năm 2024 |
| San lấp nền nhà dân dụng (theo m³ thi công) | 160.000 – 250.000 đ | m³ | Một nguồn, ghi tham khảo năm 2024; không nêu rõ phạm vi |
Một nguồn đầu năm 2026 ghi cát san lấp chỉ 120.000 – 160.000 đ/m³, thấp hơn hẳn các nguồn khác và không nói rõ là giá tại bãi hay giao tận nơi; vì vậy không dùng làm mức đại diện. Giá cát tại TP.HCM biến động theo nguồn cung, nên mức tham khảo này cần tra lại sau vài tháng.
Các khoản thường chưa gồm trong đơn giá vật liệu:
- Thuế VAT (đa số nguồn không ghi; một nguồn ghi đã gồm).
- Vận chuyển xa, phí cầu đường, trung chuyển bằng xe nhỏ khi hẻm không cho xe lớn vào.
- San gạt, lu lèn, đầm cóc; bóc lớp hữu cơ và dọn mặt bằng.
- Thí nghiệm độ chặt và đo cao độ nghiệm thu.
- Phần vật liệu bị nén lại sau khi đầm (xem mục 3).
2. Công thức tính khối lượng san lấp
Công thức cơ bản:
Thể tích đắp (m³) = Diện tích cần đắp (m²) × Chiều cao đắp (m)
Trong đó chiều cao đắp là chênh lệch giữa cao độ hoàn thiện cần đạt và cao độ hiện trạng (sau khi đã bóc lớp hữu cơ, nếu có). Hai cao độ này nên lấy theo cùng một mốc, ví dụ mặt đường hoặc một mốc cố định do hai bên thống nhất.
Mặt bằng thực tế hiếm khi bằng phẳng. Với lô đất lồi lõm, ao, mương, cách làm hợp lý là chia mặt bằng thành các ô lưới, đo cao độ tại các góc ô, rồi cộng thể tích từng ô:
V = Σ (diện tích ô × chiều cao đắp trung bình của ô)
Ô càng nhỏ thì kết quả càng sát thực tế. Chỗ trũng sâu như ao, hố cũ nên tính riêng vì thường phải bơm nước, nạo vét bùn trước khi đắp.

Máy đào xúc đất lên xe ben; ảnh minh họa.
3. Hệ số lèn chặt và hệ số tơi xốp: vì sao xe chở tới nhiều hơn thể tích nền?
Công thức ở mục 2 cho ra thể tích nền sau khi đã đầm chặt. Nhưng cát, đất chở trên xe đang ở trạng thái rời. Khi san ra và đầm, vật liệu nén lại, nên số m³ chở tới phải nhiều hơn số m³ nền.
- Hệ số tơi xốp: tỷ lệ giữa thể tích vật liệu khi đã đào, xúc lên (rời) so với lúc còn nguyên trạng.
- Hệ số lèn chặt (hệ số quy đổi): tỷ lệ giữa thể tích vật liệu rời cần cung cấp so với thể tích nền sau khi đầm đến độ chặt yêu cầu.
Không có một con số dùng chung cho mọi công trình. Hệ số thay đổi theo loại cát, đất, độ ẩm, độ chặt yêu cầu và cách đầm. Trong một văn bản trả lời năm 2009 cho một dự án cụ thể (Công văn 670/BXD-KTXD), Bộ Xây dựng hướng dẫn rằng khi hệ số chuyển đổi bình quân trong định mức không phù hợp, chủ đầu tư và tư vấn cần xác định lại theo điều kiện cụ thể và tính chất cơ lý của từng loại đất, cát.
Vì vậy, thay vì dùng một hệ số "nghe nói", hãy thống nhất trong hợp đồng: thanh toán theo khối lượng rời (theo xe) hay khối lượng chặt (theo cao độ), hệ số quy đổi bao nhiêu và lấy từ đâu (thiết kế, thí nghiệm hay thỏa thuận).
4. Ví dụ tính chi phí với số liệu giả định
Giả định sau chỉ để minh họa cách tính, không phải số liệu của một công trình cụ thể:
- Lô đất 5 m × 20 m = 100 m², mặt hiện trạng tương đối phẳng.
- Cần tôn cao trung bình 0,8 m sau khi đầm.
- Hai bên thống nhất hệ số quy đổi giả định k = 1,2 (số giả định, không phải định mức).
Vuốt ngang để xem đủ các cột →
| Bước | Cách tính | Kết quả |
|---|---|---|
| Thể tích nền sau đầm | 100 m² × 0,8 m | 80 m³ |
| Cát rời cần chở tới | 80 m³ × 1,2 | 96 m³ |
| Số chuyến xe ben 10 m³ | 96 ÷ 10 | Khoảng 10 chuyến |
| Tiền cát theo m³ | 96 m³ × 200.000 – 260.000 đ | 19,2 – 25,0 triệu đồng |
| Tiền cát theo chuyến | 10 chuyến × 2,0 – 2,3 triệu đồng | 20,0 – 23,0 triệu đồng |
Ví dụ chưa gồm san gạt, lu lèn, bóc hữu cơ, trung chuyển, thí nghiệm và thuế. Nếu bỏ qua hệ số quy đổi và chỉ đặt 80 m³ cát, nền sau đầm sẽ thiếu cao độ và phải chở bổ sung.
5. Cách đo nghiệm thu: theo xe hay theo cao độ
Vuốt ngang để xem đủ các cột →
| Tiêu chí | Đo theo xe (khối rời) | Đo theo cao độ trước và sau (khối chặt) |
|---|---|---|
| Cách làm | Đo dung tích thùng xe, đếm chuyến bằng phiếu giao nhận | Đo lưới cao độ trước khi đắp và sau khi đầm, tính chênh lệch |
| Phù hợp | Lô nhỏ, nhà phố, khối lượng ít | Mặt bằng lớn, nền có yêu cầu độ chặt |
| Ưu điểm | Đơn giản, tính được ngay trong ngày | Phản ánh đúng khối lượng nền thực có |
| Rủi ro | Xe không đầy, thùng nâng thành, cát ướt nặng nhưng ít khối | Cần thiết bị đo, mốc cao độ ổn định và biên bản hai bên |
Nếu đo theo xe: đo thực tế chiều dài, chiều rộng, chiều cao thùng của từng xe ngay buổi đầu và ghi vào biên bản. Mỗi chuyến nên có phiếu ghi biển số, giờ đến, loại vật liệu, có chữ ký người nhận tại công trình. Kiểm tra mức chất đầy thùng khi xe tới, không chỉ nhìn tổng số chuyến cuối ngày.
Nếu đo theo cao độ: chốt mốc cao độ cố định trước khi thi công, đo lưới hiện trạng sau khi bóc hữu cơ, đo lại cùng các điểm sau khi đầm. Hồ sơ đo cao độ cũng là một phần của bản vẽ hoàn công cần có khi bàn giao, như đã nêu trong trang dịch vụ san lấp mặt bằng.
Hai cách cho ra hai con số khác nhau, và chênh lệch đó chính là phần lèn chặt. Điều quan trọng là đơn giá đi với cách đo nào: đơn giá theo khối rời không thể áp vào khối lượng chặt, và ngược lại.
6. Những yếu tố làm giá san lấp chênh lệch
- Loại vật liệu và chất lượng: cát sạch hay lẫn tạp chất, đất đồi hay đất tận dụng; vật liệu phải theo hồ sơ thiết kế, không chọn theo giá.
- Quãng đường và lối vào: chi phí vận chuyển đất đá, vật liệu đắp tăng theo cự ly; hẻm nhỏ hoặc tuyến cấm giờ có thể phải trung chuyển, chạy đêm.
- Hiện trạng nền: ao, mương, lớp bùn phải bơm, nạo vét, xử lý trước khi đắp.
- Khối lượng: khối lượng lớn thường có đơn giá thấp hơn; lô nhỏ chịu chi phí huy động xe máy cao hơn trên mỗi m³.
- Yêu cầu đầm nén: nền cần đạt độ chặt thì phải tính thêm thiết bị đầm và thí nghiệm. Có thể thuê riêng máy đào, xe lu nếu tự tổ chức thi công.
Nếu công trình phát sinh xà bần, đất thải cần chở đi, xem thêm quy định đổ xà bần, chất thải xây dựng tại TP.HCM để tránh rủi ro bị xử phạt.
7. Gửi gì để được báo giá san lấp sát thực tế?
- Vị trí lô đất, diện tích và ảnh hiện trạng, ảnh lối vào.
- Cao độ cần tôn (hoặc cao độ mặt đường làm mốc) và mục đích sử dụng nền.
- Có ao, mương, nước đọng hay công trình cũ cần dỡ không.
- Vật liệu theo thiết kế (nếu có) và yêu cầu độ chặt.
- Thời gian muốn thi công, khung giờ xe được vào.
Từ các thông tin này, liên hệ Phạm Tường 5 để được khảo sát và báo giá theo khối lượng, vật liệu và quãng đường vận chuyển thực tế, có ghi rõ cách đo nghiệm thu và các khoản đã gồm, chưa gồm.
Dịch vụ liên quan đến bài viết
- San lấp mặt bằng
Thi công san lấp mặt bằng, bóc hữu cơ, đắp cát và đầm nén đạt độ chặt thiết kế cho nền nhà xưởng, khu dân cư và công trình hạ tầng tại TP.HCM.
- Vận chuyển đất đá, xà bần
Vận chuyển đất thải, xà bần ra khỏi công trình và chở vật liệu đắp vào công trình tại TP.HCM, có phương án chạy đêm cho tuyến đường hạn chế giờ.